Một Ngày Việt Nam …

Một Ngày Việt Nam …

Để đối đầu với cuộc sống, dù ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Ông Cha của chúng ta có một câu ngạn ngữ rất hay và rất gần gủi, một thứ ngôn ngữ rất bình dân, để dạy dỗ con cháu – Trước Lạ Sau Quen.

Đầm mình trong ý nghĩ về câu ngạn ngữ đó, có lẽ chúng ta sẽ thấy được nhiều nét hay, nét đẹp trong câu nói bình dị nhưng chứa đựng nhiều triết lý sống nhân bản của con người Việt Nam, của văn hóa Việt Nam.

Nếu kể dọc theo dòng Sử Việt, có thể nói người dân Việt Tộc của chúng ta là người dân mãi di chuyển trong nguyên hành trình từ ngày dựng nước cho đến nay. Chúng ta thay đổi mảnh đất sống, chúng ta thay đổi phong cách sống để hợp với phong nhưỡng, thổ nhưỡng, cũng như bất kỳ nền văn hóa bản địa nào mà chúng ta di cư đến và định cư tại đó.

Và do đó, sự xuất hiện của câu nói Trước Lạ Sau Quen cũng không có gì là lạ lắm. Câu nói đó vừa là kinh nghiệm, vừa là những điều hàng ngày trong cuộc sống mà người dân Việt gần như luôn luôn phải đối diện.

Trong vòng lịch sử một trăm năm đổ lại đây, dân tộc Việt đã lại chứng giám hai lần thay đổi cuộc sống rất lớn, đó là cuộc di cư từ Bắc vào Nam vào năm 1954 và kế đến là cuộc di tản 1975 và các bước tiếp theo của dòng người vượt biên tỵ nạn chính trị và ra đi chính thức dưới dạng thể di dân, hay chương trình ra đi có trật tự [Orderly Departure Program – ODP].

Trong việc di chuyển để sống đó, có hai điểm mà chúng ta có lẽ cần chú ý để thấy rõ sự khác biệt giữa hai hình thức di cư và di dân, đó là: Di cư vì bắt buộc và di dân vì cơ hội. Nếu chúng ta bị buộc phải rời khỏi mảnh đất mà mình đang sinh sống vì bất cứ lý do gì, như chiến tranh, mảnh đất bị ngập nước, ruộng đất không thể cày cấy, v.v… thì đó chính là dạng di cư bắt buộc. Người ta bị buộc phải rời bỏ mảnh đất nơi mình đang sinh sống, cư ngụ để tìm đến nơi khác mà có thể sống được. Ở dạng thứ hai, đó chính là tìm nơi khác để sống vì nơi khác đó cho người ta một cơ hội sống tốt hơn, và nơi cư ngụ nguyên thủy vẫn còn là mảnh đất có thể sống được. Ngoài hai hình thức Di Cư và Di Dân đó ra, còn có hình thức Tản Cư, Ngụ Cư và Hồi Cư. Tản Cư là di tản khỏi nơi mình sống một cách tạm thời, Ngụ Cư là tạm thời cư ngụ tại một vùng đất nào đó, và Hồi Cư là trở lại mảnh đất cũ.

Dù rằng hai phân định trên về việc di dân không có giá trị xác thực rõ ràng lắm, nhưng điểm khác biệt quan trọng nơi sự phân định đó là: Một đàng là hình thức di dân theo kiểu tiêu cực [bị buộc để làm], và hình thức còn lại là di dân theo kiểu tích cực [tự mình chọn mảnh đất mới để sống].

Và cả hai cuộc di dân của Việt tộc trong vòng 100 năm qua đều là hai hình thức di dân theo kiểu tiêu cực. Chúng ta bị buộc phải rời bỏ mảnh đất đang sống vì không còn bất kỳ hy vọng nào để ở lại đó. Và điều bất hạnh nhứt trong việc tạo ra hai cuộc di dân khổng lồ này lại chính là do con người chứ không phải từ thiên nhiên, và cùng xảy ra bởi cùng một hiểm họa lớn, chẳng những cho dân tộc Việt, mà còn cho cả nhân loại trên thế giới này – đó chính là hiểm họa Cộng Sản.

Cuộc di dân thứ nhứt diễn ra vào năm 1954. Vào lúc đó, một khối người khoảng 1 triệu Việt người đã bồng bế, gồng gánh nhau chạy từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam để chối từ chủ nghĩa Cộng Sản đang được áp đặt lên một nửa đất nước Việt Nam từ vĩ tuyến 17 đổ về phía Bắc.

Nhưng với lần di dân đó, người Việt chúng ta không vấp phải nhiều vấn đề phức tạp của một cuộc di dân, ngoài những điều bắt buộc cần phải làm như tái định cư, gia nhập và đời sống địa phương, v.v…

Lợi điểm lớn, dù rằng bị buộc phải di dân là điều không phải ai cũng muốn xảy ra với mình hay trong cuộc đời mình, của cuộc di dân vào năm 1954 chính là sự việc chỉ xảy ra trong vòng biên giới nước Việt Nam. Ngôn ngữ từng địa phương, khu vực có thể khác nhau về âm điệu, ngữ giọng, khó nghe khi mới nghe giọng nói trong thời gian đầu, những chữ quen dùng của địa phương, nhưng trên tất cả, ngôn ngữ Việt vẫn là ngôn ngữ được sử dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam, từ Bắc chí Nam. Điều cần thiết của người Việt di cư lúc đó là chỉ cần học nghe giọng nói mới và những chữ phổ dụng tại địa phương mới, ngoài ra không khác gì nhiều lắm. Thổ nhưỡng có khác chút đỉnh nhưng không hẳn hoàn toàn khác biệt giữa hai miền Nam Bắc. Do đó, cuộc di cư năm 1954, cho dù là di cư từ Bắc vào Nam nhưng cũng không khác lắm so với việc di cư sang làng kế bên để sinh sống. Tôi không biết rõ ở các vùng địa phương khác ra sao, nhưng tại vùng địa phương nơi gia tộc tôi đã từng sống tại Quảng Ngãi, theo lời Cha tôi, thì tiếng nói có thể thay đổi theo từng làng dù hai làng ở sát cạnh nhau. Do đó, cuộc di dân từ Bắc và Nam thì cũng không khác lắm so với di cư từ làng này trong làng khác, vì mọi việc đều xảy ra trong vòng phạm vi của nước Việt. Từ đó, việc hội nhập xảy ra với tất cả mọi người di dân gần như trên khởi điểm bằng nhau trên mọi phương diện. Không có sự cách biệt lớn giữa thế hệ già và thế hệ trẻ, cũng như sự khác biệt giữa những người có học vấn và không học vấn.

Và lợi điểm kế tiếp là khối người Việt di dân từ Bắc vào Nam và người dân Việt đang sinh sống tại miền Nam không khác biệt lắm về trình độ tri thức, và trên thực tế lại có phần hơn, cũng như tình trạng kinh tế gia đình và xã hội. Chính sự cân bằng về tình trạng kinh tế này đã thúc đẩy việc hội nhập vào xã hội miền Nam của người dân di cư miền Bắc thêm phần nhanh chóng hơn.

Vào thời điểm đó, người dân di cư không cần những “công cụ” để hội nhập vào đời sống địa phương nơi đất mới vì mọi “công cụ” cần phải có, như ngôn ngữ, phong tục, văn hóa, thì người dân di cư miền Bắc đã có sẵn. Việc làm gần như duy nhứt là làm sao hội nhập nhanh chóng, và ổn định đời sống vật chất nơi mảnh đất mới miền Nam.

Bất kỳ một mảnh đất mới nào cũng có hai đặc tính phổ quát cho bất kỳ người di dân mới nào đặt chưn đến. Mảnh đất mới có thể là mảnh đất cơ hội, nhưng cũng cũng chính mảnh đất cơ hội đó có thể là, một mảnh đất buồn, và để từ đó người di cư ngóng vọng về cố hương. Khi thành công, thì đó là mảnh đất cơ hội, khi thất bại, thì đó là mảnh đất buồn.

Trong tình trạng người dân di cư Việt vào thời điểm những năm 1954 đó, do hoàn cảnh chính trị và chiến tranh đang diễn ra, người dân di cư gần như đoán biết được phần nào ngày trở về đất cũ gần như rất khó khăn, và thời gian di cư càng lâu, niềm tin trở lại đất cũ càng mất dần, hay mờ nhạt đi. Nhưng chính trong điều mất mát đó, đã nảy sinh ra lòng quyết tâm ở lại mảnh đất mới càng rõ hơn. Người ta chỉ ở trên đất tạm khi ngày về còn gần, và còn có thể nhìn thấy được. Nhưng nếu ngày trở về mờ nhạt đi, thì việc gắn bó vào mảnh đất mới chẳng những là điều cần thiết, mà còn là điều sống còn. Với cùng một người hàng xóm, nếu một người đến để tạm cư, người đó có thể không cần giao tiếp với người hàng xóm nếu thấy không cần thiết, bởi vì chỉ một thời gian ngắn thì người đó sẽ rời nơi tạm cư và trở về đất cũ. Tuy nhiên, với việc chấp nhận mảnh đất phương Nam làm nơi định cư vĩnh viễn, người di dân miền Bắc đã nhìn thấy việc cần phải sống hòa vào lối sống của miền Nam. Đó là việc cần thiết và cũng là điều sống còn để tồn tại nơi mảnh đất mới. Và từ đó, mảnh đất miền Nam đã trở thành mảnh đất nhà, mảnh đất quê hương của những người di cư miền Bắc.

Chiến tranh nào rồi cũng sẽ kết thúc. Chiến tranh đến rồi chiến tranh sẽ ra đi. Đó là qui luật tất yếu của xã hội. Trận chiến nào dù khủng khiếp, nghiệt ngã, và day dẳng đến đâu rồi cũng có ngày sẽ kết thúc. Cuộc chiến tại Việt Nam cũng không khác bất kỳ cuộc chiến nào đã từng xảy ra trong lịch sử con người. Có khởi đầu và có chấm dứt.

Chưa đầy 21 năm sau ngày di cư và miền Nam, một lần nữa, một nửa phần còn lại của nước Việt từ vĩ tuyến 17 đổ về Nam lại phải di tản để tránh chạy chế độ Cộng Sản đang buông bức màn tre bao trùm toàn cõi Việt Nam. Với khoảng ba trăm ngàn người chạy thoát ngay trong thời gian chế độ VNCH tại miền Nam Việt Nam sụp đổ vào năm 1975, và tiếp theo đó, trong khoảng thời gian từ 1978 cho đến 1989, một làn sóng khổng lồ vượt biển tỵ nạn chính trị của hơn 2 triệu người Việt, và sau cùng là một số lượng không nhỏ những người ra đi theo chương trình ra đi có trật tự, cũng như bảo lãnh di dân theo diện thân nhân thân thuộc.

Trong cả hai lần, người di dân và di tản, đều bị buộc phải rời khỏi mảnh đất mà mình đang sống và đang mưu cầu hạnh phúc cho bản thân và gia đình. Cả hai lần người Việt đều phải bỏ chạy để chối từ chủ nghĩa Cộng Sản. Đó là hai điểm giống của cả hai lần di cư và di tản.

Điểm khác biệt lớn nhứt của hai lần bỏ chạy này chính là mảnh đất mới mà người di cư và di tản đến định cư. Mảnh đất trong đợt di cư năm 1954 vẫn là mảnh đất nhà, với đồng bào ruột thịt cùng chung huyết thống và tiếng nói. Lần di tản thứ hai, người Việt đã vượt ra khỏi cái biên giới quốc gia và đến định cư tại nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới.

Chính việc di dân ra khỏi đường biên giới quốc gia này đã tạo nên nhiều vấn đề phức tạp mà người dân Việt chúng ta đã phải đối diện khi gia nhập vào cuộc sống mới, nơi mảnh đất mới.

Ngôn ngữ là tiếng nói và chữ viết mà con người tự sáng tạo ra để chuyển tải và truyền đạt ý tưởng với nhau và với mọi người khác. Ngôn ngữ thuở ban đầu có tính chất địa phương. Người ta quy định những âm thanh, ký hiệu để trao đổi với nhau. Khi quốc gia được thành lập, người ta bắt đầu thống nhứt ngôn ngữ để mọi mịnh lịnh truyền đạt từ trên xuống dưới, hay các phản ảnh từ dưới lên trên đều cùng sử dụng một ngôn ngữ thống nhứt. Đó là sự cần thiết phải có để tạo dựng nền móng của một quốc gia.

Do đó, tới thời điểm đó, sự phát triển của ngôn ngữ bị giới hạn trong vòng đai của một quốc gia. Và quốc gia thuở ban đầu thường được phân chia bởi những đường biên giới tự nhiên. Chính những đường biên giới tự nhiên này ngăn cản, hay tạo sự khó khăn trong giao tiếp của những người dân quanh đó. Những khu rừng rầm dầy đặc, nhưng con sông, những sa mạc, hồ, biển cả, v.v… là những đường biên giới tự nhiên tạo thành các quốc gia vào thuở ban đầu. Dĩ nhiên, ngôn ngữ không dừng lại ở nơi đó. Có những vùng, dù sự tiết giáp bị giới hạn bởi thiên nhiên nhưng vẫn có sự giao thoa ngôn ngữ với nhau. Chẳng hạn như những người dân sống hai bên bờ một dòng sông ngăn cách hai quốc gia trên đường biên giới địa lý chính trị. Nhưng không phải vì cái đường biên giới “tưởng tượng”, do con người tạo lập ra, trên bản đồ chính trị, hay sự ngăn cách hiện hữu bởi con sông giữa hai quốc gia, mà người dân sinh sống hai bên sông lại không cùng nói chung một ngôn ngữ. Người dân bên bờ này có thể nói được tiếng nói qui định bởi quốc gia bên bờ kia và ngược lại.

Ngôn ngữ là nhịp cầu nhưng ngôn ngữ cũng chính là ngõ cụt. Ngôn ngữ chính là sự phong phú của óc tưởng tượng của con người nhưng cũng chính là giới hạn của ý tưởng.

Thay đổi cuộc sống mới, nơi mảnh đất mới không phải là điều xa lạ với người Việt bởi người Việt chúng ta đã có quá nhiều kinh nghiệm trong việc dịch dời nơi ăn, chốn ở của mình. Hay nói một cách khác, những thay đổi của thực tế cuộc sống vật chất không phải là điều mới, hay ít nhứt là thay đổi cuộc sống từ một nơi có mức độ cuộc sống vật chất thấp đến nơi có mức độ vật chất cuộc sống cao hơn, và quan trọng hơn là có ngay được sự giúp đỡ của chính quyền sở tại, thì việc gia nhập vào cuộc sống mới không phải là điều khó khăn lớn nhứt. Điều khó khăn lớn nhứt mà người Việt, trong làn sóng di tản năm 1975 cũng như những đợt tỵ nạn và di dân chính thức sau này đều phải vấp phải chính là khó khăn về ngôn ngữ, phong tục, và văn hóa trong việc hội nhập vào cuộc sống tại các quốc gia mà mình định cư.

Ngôn ngữ là cầu nối của các nền văn hóa khác nhau khi giao thoa hay va chạm vào nhau. Ngôn ngữ sẽ làm cho con người ta, ở nhiều nền văn hóa khác biệt, nếu hiểu nhau, qua ngôn ngữ, thì sự cách biệt giữa lạ và quen sẽ nhanh chóng bị xóa bỏ. Nhưng nếu hàng rào ngôn ngữ cách biệt quá xa, và hiển nhiên rằng khi một người đến một miền đất mới thì người mới đến phải học cái ngôn ngữ tại địa phương đó, thì sự cách biệt đó khó mà xóa bỏ được. Đó cũng chính là ngõ cụt của ngôn ngữ.

Một xã hội tân tiến, ngoài các giá trị vật chất ra, còn có một thành phần định nghĩa hay xác định cái mức độ tân tiến của xã hội đó. Cái thành phần định nghĩa mức độ tân tiến của một xã hội chính là cái tri thức của xã hội đó, thông qua cái tri thức của người dân trong xã hội ở một mức độ của một người dân trung bình. Trong bất kỳ xã hội nào cũng có nhiều “giai từng” về trí thức, nhưng cái đại đa số dân chúng nằm trong giai từng tri thức nào, sẽ định nghĩa mức độ tiến bộ của xã hội đó. Điều mà người Việt phải nhìn nhận và chấp nhận, trên thực tế khách quan, là xã hội Việt Nam trong hơn 100 năm qua bị xáo trộn quá nhiều bởi chiến tranh, loạn lạc và việc di chuyển liên tục đã làm yếu đi rất nhiều trình độ tri thức của người dân. Chính điểm yếu này đã biến ngôn ngữ trở thành một bức tường văn hóa lớn, hơn là một nhịp cầu, đối với người Việt khi hội nhập vào xã hội mới tại địa phương định cư.

Những đợt du học sinh Việt Nam đến các xã hội phương Tây trước 1975, hay những người Việt di tản trong năm 1975, đại đa số là những thành phần ưu tú trong xã hội Việt Nam tại miền Nam, nên bước hội nhập vào xã hội mới có phần nhanh chóng hơn. Những làn sóng người Việt tỵ nạn chính trị tiếp theo sau đó, đại đa số là những người dân bình thường hơn, trên vấn đề tri thức, nên việc hội nhập có phần khó khăn hơn. Nhưng cũng có điều may mắn nơi đây, chính là những đợt du học sinh và di tản đã lót cầu, học kinh nghiệm nơi họ định cư, và truyền đạt lại cho những đồng bào tỵ nạn đến sau hơn, và do đó cũng đã làm giảm bớt một phần nào đó những khó khăn vấp phải trong những bước đường đầu hội nhập vào xã hội mới.

Người Việt đến định cư trên đất mới, chúng ta lạ nước, lạ cái, và lạ luôn cả người lạ ! Cuộc di cư năm 1954 từ Bắc vào Nam, đồng bào người miền Bắc có thể lạ đất, lạ thổ nhưỡng nhưng mức độ khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ và phong tục gần như rất nhỏ. Và dù rằng, trong cuộc hòa hợp bất đắc dĩ xảy ra bởi chiến tranh này, người dân hai miền của nước Việt gọi nhau là người lạ, nhưng trên thực tế, thực sự chỉ là những người quen chưa gặp, hay gần gủi hơn – Đồng Bào. Hay nói theo lối nói khác, những người lạ tại miền Nam, cũng giống như những người lạ khi đi chợ, khi đi ra ngoài mà chúng ta gặp được. Sự thông hiểu, cùng chung ngôn ngữ, dòng giống, cùng chung một mảnh đất tổ tiên, những người lạ cũng chính là những đồng bào ruột thịt. Trong khi đó, bước sang định cư tại một quốc gia khác, những người lạ thực sự là người lạ !

Nhưng rồi với tính hiếu khách, với đặc tính luôn luôn học hỏi, thích tiếp cận cái mới, và bản tính trọng cái học, đặt việc học lên trên mọi việc khác, đã giúp người Việt nhanh chóng hòa hợp vào bất kỳ một xã hội nào bên ngoài đường biên giới nước Việt. Bất kỳ hàng rào ngôn ngữ nào rồi cũng được dần dần xóa bỏ và ngày hôm nay các cộng đồng người Việt tại mọi nơi trên thế giới đang ngày càng phát triển mạnh. Thuở ban đầu sự phát triển còn nằm từ bên trong cộng đồng, và ngày nay, khi thế hệ thứ hai bắt đầu lớn lên và thành đạt nơi xứ người, ảnh hưởng của cộng đồng Việt đã ngày càng lan rộng ra thế giới bên ngoài tại bất kỳ một quốc gia nào mà người Việt chúng ta định cư.

Trong bước đường tiến triển để hội nhập vào xã hội mới cũng có những bài học đáng tiếc xảy ra, và chắc chắn rằng cộng đồng người Việt đã và đang điều chỉnh lại. Bài học đó chính là việc là sao gia nhập vào xã hội mới tại bản địa mà vẫn gìn giữ được bản sắc của người Việt, của tất cả mọi cộng đồng Việt Nam nơi đất mới. Đôi lúc chúng ta đi hơi quá xa trong việc hội nhập. Một việc điển hình là giáo dục con cái về văn hóa, ngôn ngữ và phong tục tập quán cho con cái lớn lên trên xứ người.

Có lẽ xuất phát từ bức tường ngôn ngữ và văn hóa cách biệt, có một số người Việt đã mạnh tay cho con em mình học đơn thuần ngôn ngữ địa phương và hoàn toàn không nói tiếng Việt trong gia đình với con cái. Thuở ban đầu có một số người dường như hãnh diện về điều này. Nhưng thực tế cho thấy, và cũng là bài học mà cộng đồng người Việt đã học được qua hai câu nói truyền miệng, vừa dí dỏm, vừa thực tế: Đừng lo chúng quên tiếng bản địa, mà hãy sợ chúng không biết tiếng Việt. Và câu thứ hai, khi nói về thế hệ trẻ lớn lên ở đây, là chúng giống như trái chuối. Ngoài vàng nhưng trong trắng. Câu thứ hai có nghĩa là dù bề ngoài chúng là người Việt nhưng bên trong lòng chúng đã có cách nghĩ, cách sống như người bản địa da trắng. Do đó, việc cần và rất cần chính là truyền tải lại ngôn ngữ, văn hóa, và phong tục Việt Nam cho thế hệ con cháu sau này.

Một cộng đồng chỉ vững mạnh và tiếp tục phát triển khi cộng đồng đó có được thế hệ nối tiếp vẫn gìn giữ được bản sắc văn hóa cùng ngôn ngữ và phong tục cổ truyền của cộng đồng đó.

Để giữ gìn bản sắc dân tộc, gần như mọi cộng đồng sắc tộc trên mảnh đất Bắc Mỹ đều có một ngày riêng biệt của cộng đồng họ. Đó là ngày của xứ sở nhỏ của họ trong xã hội đa văn hóa này. Ngày của văn hóa, ngày trình diễn những bản sắc đặc thù của một cộng đồng, của một sắc dân nơi mảnh đất đầy tình người cưu mang này.

Điều thiếu hụt nơi đây, trong cộng đồng người Việt, có lẽ là chúng ta còn thiếu một ngày, tạm gọi là Ngày Việt Nam. Một Ngày Việt Nam thống nhứt trên toàn thế giới, khi mà khắp mọi nơi người Việt đều có thể cùng nhau họp mặt để quay về nguồn cội, để nhớ về mảnh đất nơi đó dòng giống, tổ tiên của bất kỳ người Việt nào trên thế giới cũng đều có được; nơi đó, chúng ta khởi đầu bước chưn ra đi.

Chúng ta không quên ơn, và không được quyền quên ơn, những mảnh đất đã giang rộng bàn tay đón chào chúng ta vào, nhưng cũng là một điều lỗi đạo rất lớn nếu chúng ta tự mình đánh mất đi bản sắc của chính dân tộc mình.

Hy vọng rằng một ngày nào đó, chúng ta sẽ có được Một Ngày Việt Nam !

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: