Văn Hóa Nửa Vời !

Văn Hóa Nửa Vời !

Chúng ta thường hay tự hào rằng nước Việt có 4,000 năm Văn Hiến, nhưng đôi lúc nhìn vào những sự thực đang hiện diện giữa cuộc sống, không phải những cái nhỏ nhặt của từng cá nhân hay gia đình, mà những cái nhỏ nhặt nó nằm tựu trung trên khuôn khổ một cộng đồng, một quốc gia ta thấy cái khuôn vàng thước ngọn đó dường như không vững vàng lắm.

Trên thực tế, chúng ta có cái văn hóa nhà quê, mà không phải vậy, gần như là cái văn hóa Nửa Chợ, Nửa Quê trong cái cách nhìn, trong cái cách hấp thụ tinh anh của những nền văn hóa khác.  Hay nói cách khác, chúng ta gần như bơ vơ, không biết đâu là ngọn ngành, đâu là cội rễ.

Khi đi ra ngoài, gặp người Tây Phương, nếu chúng ta nói rằng chúng ta là người Việt Nam thì việc đầu tiên họ hỏi, không phải về văn hóa, dân tộc, lịch sử mà chỉ là một câu hỏi đơn giản:  anh/chị/bạn/v.v… biết nói tiếng Pháp ? Lý do vì sao ?  Vì quốc gia Việt Nam bị người Pháp đô hộ trong một thời gian dài, tiếng Pháp đã trở thành một thứ tiếng ngoại gần như gắn liền với người Việt Nam, ít nhứt là trong tiền bán thế kỷ thứ 20.  Và đặc biệt là cho đến ngày hôm nay, nước Việt nằm trong khối các quốc gia nói tiếng Pháp.  Có thể đó chỉ là những hạt mưa cuối mùa hay các hình thức chính trị nhằm lôi kéo theo “bè nhóm” mà người Pháp tiếp tục chủ trương để tạo vây cánh cho mình, để bành trướng văn hóa Pháp, vì trên thực tế, tại Việt Nam còn bao nhiêu người nói được tiếng Pháp ?  Dù rằng Pháp Ngữ đã được Việt Hóa rất nhiều, trong nhiều từ ngữ mà chúng ta sử dụng vào ngày hôm nay có rất nhiều chữ tiếng Pháp trong đó.  Và, vả chăng, đó là việc chúng ta nên nằm trong nhóm các quốc gia nói tiếng Pháp.  Trên thực tế tui không biết cái định nghĩa về “các quốc gia nói tiếng Pháp” này nó ra sao, nhưng chắc chắn rằng, dù định nghĩa theo kiểu nào, cách nào thì Việt Nam vẫn không bao giờ, ít nhứt là vào lúc này, có đủ khả năng để nằm trong các quốc gia nói tiếng Pháp.  Hay vả chăng, có lần tui đọc đâu đó, nghe có người khen rằng ông cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng nói tiếng Pháp hay hơn người Pháp [Sic].  Đó là một sai lầm và ảo tưởng ngông cuồng.  Giờ trở lại câu hỏi trên:  “bạn biết nói tiếng Pháp ?“.  Hiển nhiên, với riêng bản thân tôi, tôi không biết tiếng Pháp dù rằng có thể hiểu tiếng Pháp theo kiểu vu vơ, mù mờ, nhưng để trả lời rằng tôi biết tiếng Pháp thì chắc chắn là không.  Trong những trường hợp đó, tui thường chỉ biết cúi đầu lặng lẽ nói rằng tui không biết tiếng Pháp, và việc quí vị hỏi về tiếng Pháp chắc có lẽ chỉ đúng với thế hệ Cha Ông của tui mà thôi.  Tui không bài tiếng Pháp, và thực sự tui cũng đang tự mình học lấy cái ngôn ngữ này.  Nhưng nhìn xa ra hơn, tui không nghĩ rằng Việt Nam là quốc gia nói tiếng Pháp hay nằm trong khối các quốc gia nói tiếng Pháp.  Điều đó là một sai lầm cơ bản.  Cái gốc có thể nói được tiếng Pháp một thời đã từng bị đánh đổ thậm tệ, từng là một thứ nguy hiểm đến tính mạng nếu biết được.  Con người Việt Nam một thời đã từng chối bỏ, từng xem tiếng Pháp như một bịnh cùi hủi, thì giờ đây, trên thực tế, còn bao nhiêu người biết được tiếng Pháp tại Việt Nam và để nói lên danh tánh rằng Việt Nam là một quốc gia nói tiếng Pháp.  Việc đó nghe nó vừa khôi hài, và vừa lố bịch.  Nó tạo ra một ngộ nhận cho người nước ngoài và một cái thẹn run người cho những ai còn sĩ diện về quốc gia và dân tộc.  Đó là một thứ văn hóa nửa vời, Quê không ra Quê, và Chợ không ra Chợ.  Một thứ văn hóa bát nháo, tự nhận vơ vào mình những điều mình không có, và cái nhục chắc chắn sẽ xảy ra khi bị hỏi ngược lại.

Trong các quốc gia nhỏ Á Châu nằm chung quanh nước Trung Hoa, có nền văn hóa mạnh, và còn tồn tại được cho đến ngày hôm nay chỉ còn có Đại Hàn, Nhật Bản và Việt Nam.

Các quốc gia này tồn tại được bởi có vị trí địa lý hiểm trở như núi non hay biển rộng, sông dài.  Trên thực tế, Cha Ông chúng ta đã từng phải chạy dài cho đến khi được dãy Hoàng Liên Sơn hiểm trở như bàn tay xòe ra che chở và chắn giữ ở phía Bắc làm cản trở đường tiến quân của người Hán Tộc, và cũng đã đủ xa quá xa các kinh đô của người Hán ngày xưa.  Bàn tay thiên nhiên ấy, hay ý Trời định cho sự tồn vong của Việt tộc ?  Hay nói cách khác, Việt tộc chúng ta tồn tại đến ngày hôm nay, âu cũng là một phần nào đó nhờ vào bàn tay kỳ diệu của Trời Phật.

Dù tồn tại như các quốc gia độc lập nhưng cả 3 quốc gia trên đều có những ảnh hưởng từ văn hóa người Hán và đặc biệt là trong chữ viết.  Cho đến ngày hôm nay, người Nhật Bản và người Hàn Quốc vẫn còn sử dụng những chữ viết của người Hán.  Cả ba quốc gia Việt Nam, Nhật Bản, và Đại Hàn đều sử dụng chữ Hán, và cũng đều có cải biến từ chữ Hán để tạo ra ngôn ngữ riêng cho chính mình.  Trong tiếng Việt, đó chính là chữ Nôm mà Cha Ông ta đã tạo ra.

Người Nhật Bản từ thời Minh Trị Thiên Hoàng cải tổ và canh tân quốc gia, và sau này ảnh hưởng ngày càng nhiều từ người Mỹ, văn hóa Mỹ, nhưng họ không loại bỏ cái nguồn gốc chính của họ.  Và người Đại Hàn cũng vậy.

Riêng người Việt chúng ta, chúng ta thay đổi tương đối nhanh.  Nhưng có lẽ ở cái nhanh không đúng chổ !

Thử nhìn từ góc nhìn màu sắc trong Hội Họa, để từ đó học ngược lại bài học về cái nhìn của ngôn ngữ, của văn hóa, của việt phát triển.  Ai cũng biết màu sắc có 3 màu chính là Đỏ, Xanh Lá Cây, và Xanh Dương [Primary Colors].  Tùy theo sự giao thoa của các màu theo một tỷ lệ nào đó thì sẽ tạo ra một vòng tròn màu với đủ màu sắc của các sắc màu phân tán dưới thấu kính phân kỳ.  Khi tỷ lệ 3 màu cơ bản được hòa trộn đồng đều nhau, thì sẽ tạo ra màu trắng !

Văn hóa của các quốc gia cũng có lẽ theo chiều hướng đó.  Mỗi quốc gia giống như một màu sắc cơ bản – Hoặc Đỏ, hoặc xanh Lá Cây, hoặc Xanh Dương, hay bất kỳ màu sắc nào mà quốc gia đó ưa thích.  Giữa hai quốc gia nằm sát kề nhau thì sẽ có sự pha trộn màu sắc trong đó giữa 2 màu cơ bản.  Nơi hội tụ của tất cả các màu sắc cơ bản lại với nhau, hay một quốc gia đa văn hóa như nước Mỹ thì nơi đó không có màu sắc cơ bản mà chỉ là màu trắng nếu xã hội ôn hòa, và tùy theo sự biến động trong thành phần xã hội mà xã hội Mỹ sẽ có những màu sắc khác biệt.

Hay nói một cách khác, các quốc gia thuần chủng là các quốc gia ở thể tĩnh [Statics] và giữ gìn, phát triển văn hóa theo cái thế tĩnh của mình để giữ cái nguồn, cái gốc của dân tộc.  Trong khi các quốc gia đa chủng [Mỹ, Canada, Úc] là các quốc gia ở thể động [Dynamics], một xã hội luôn luôn thay đổi và cần sự thay đổi nhanh chóng để phát triển trong vấn đề văn hóa.  Một quốc gia ở thể động không thể giữ, hay khó có thể giữ được một trạng thái bất động trong văn hóa.  Một làn sóng người di cư mới vào sẽ phá đi cái trạng thái tĩnh tạm thời của cái thể động, và làm cho thành phần động thay đổi.  Sau một thời gian, cái tình trạng động sẽ biến đổi dần hay thay đổi hẳn đi.

Trong khi đó thì văn hóa Việt thuộc về văn hóa đơn chủng hay thuần chủng.  Dù rằng một nền văn hóa bất biến là một nền văn hóa chết, nhưng sự biến đổi nó phải phù hợp với tình trạng văn hóa và phong tục tập quán của một quốc gia.  Trong vòng 200 năm đổ lại đây, nước Việt đã có quá nhiều thay đổi, thay đổi đến chóng mặt cho một quốc gia, đáng lý ra, phải nằm ở thể tĩnh và tiệm tiến với các thay đổi.  Thay đổi nhanh không phải là một điều xấu, và thay đổi chậm cũng không phải là một điều tốt.  Mà sự thay đổi nào thích hợp, và tối ưu nhứt cho một quốc gia, dân tộc, văn hóa, v.v… thì đó là thay đổi tốt nhứt vậy.

Khi người Pháp bước vào Đông Dương, chúng ta nhanh chóng liệng bỏ đi cái ảnh hưởng của người Trung Hoa không một chút thương tiếc.  Nằm cạnh một nước lớn, chúng ta luôn luôn có cái mặc cảm của một nước nhỏ.

Khi người Pháp bước vào, chúng ta thấy Trung Hoa như một con bịnh của Á Châu [the Sickman of Asia], chúng ta phủi tay cái rột để nhận vào trong nhà một nền văn hóa hoàn toàn khác biệt.  Điều này không hẳn là dở nhưng nó lại tạo ra tình trạng nửa chợ, nửa quê.  Hãy tưởng tượng hình ảnh một ông đồ già, đang ngồi viết chữ Nho và uống … sửa bò !  Đó chỉ là hình ảnh tưởng tượng, nhưng cái mất, mà thực sự đã bị mất đó chính là kho tàng văn hóa, văn chương của gần 4,000 năm bỗng dưng cũng bị phủi tay liệng bỏ đi mất !  Chúng ta không thích người Hán vì người Hán lấn hiếp dân tộc chúng ta quá nhiều trong quá khứ, và trong cả hiện tại, lấn hiếp dân tộc chúng ta cả trên cuộc sống lẫn trong văn hóa.  Nhưng phủi tay với những gì Cha Ông để lại thì quả là một điều quá đáng tiếc trong dòng tiến của dân tộc.  Chúng ta liệng bỏ chữ Nho và chúng ta cũng ném luôn vào hố rác đó chữ Nôm mà do chính Ông Cha ta đã tạo ra.  Rồi người Pháp ra đi, chiến tranh Quốc Cộng xảy ra, và sau cùng chúng ta rước Chủ Nghĩa Cộng Sản vào.

Chủ Nghĩa Cộng Sản, dù đã ráng bôi mặt, vẽ hình cho nó thực gần với chủ nghĩa quốc gia dân tộc nhưng cuối cùng cũng lộ ra bộ mặt đích thực của một chủ nghĩa ngọai bang.  Điều tệ hại nhứt của Chủ Nghĩa Cộng Sản là làm cho quốc gia dân tộc ngày càng ngu, hèn, và chậm tiến hơn.  Một số người đã và đang tô son, trát phấn cho chủ nghĩa ngoại lai này với những lý tưởng và mục tiêu mang nhiều tính hoang tưởng hơn là thực tế có được.  Người ta biết rằng kẻ đó dại khi kẻ đó xây nhà trên cát, và người ta rất sợ những kẻ điên xây nhà trên triền núi đang bị lở lói dần.  Cái sợ ở đây không phải sợ cho kẻ điên, nhưng sợ cho những hệ lụy tới những con người mà kẻ điên đó dính dáng tới.  Những người đó không có tội và không bao giờ có tội.

Văn hóa của chúng ta trong 200 năm qua là một loại văn hóa nửa vời.  Thoạt đầu chúng ta tưởng mình nhà quê, nhìn vào ngôi chợ chói lòa ánh sáng của văn hóa văn minh Pháp, chúng ta vội vã bước ra chợ như những con thiêu thân bay lao đầu vào trong vùng ánh sáng chói lòa.  Và cũng như con thiêu thân, chúng ta rụng rời, rơi rớt xuống.  Khi con thiêu thân tỉnh dậy, chúng ta lại thấy một vùng trời phương Đông với ánh lửa hồng của Chủ Nghĩa Cộng Sản đang nổi lên, và thêm một lần nữa chúng ta lại lao vào ánh lửa đó với niềm tin tưởng rằng đó là ánh lửa soi đường, nhưng thực chất đó chính là ngọn lửa thiêu thân cho những con thiêu thân chói lòa mắt vì ngọn lửa đó.

Chúng ta đi quá nhanh.  chúng ta đi không những bằng chưn, mà còn chấp thêm đôi cánh thiên thần vào trong đó, thay vì ngồi lại tự mình suy gẫm xem hôm qua, hôm nay, và ngày mai sẽ ra sao.  Chúng ta bất chấp việc mình làm đúng hay sai, hay hay dở, miễn sao nó tân kỳ là được rồi.  Hãy thử nhìn vào việc cúi đầu xuống chào nhau trong văn hóa Á Đông.  Người Nhật Bản, người Đại Hàn họ cúi đầu chào một cách trang trọng.  Chúng ta, người Việt, chỉ cúi đầu chào sơ sài, và ngày nay còn dơ tay lên vẫy nhau như người Pháp !  Một người Pháp nhưng không Tây !

Âu đó cũng là một định mệnh.  Một định mệnh nghiệt ngã cho một dân tộc.  Một định mệnh nghiệt ngã của những kẻ nửa chợ, nửa quê.  Đang ở nhà quê mơ về nơi xứ chợ.  Đang ngồi giữa chợ, chợt thấy mình lạc lõng, lại nhớ quê.

Nhưng biết sao hơn khi quốc gia này, may mắn hay bất hạnh ?, lại nằm giữa ngã ba đường quốc tế.  Và nơi đó có lẽ người ta gọi là Chợ.  Một ngôi chợ của những kẻ nhà quê.

PDK

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: